Lịch sử hình thành sinh trắc học vân tay.

Năm 1968 nhà bác học Holt đã chứng minh được rằng có thể dự đoán tương đối chính xác tổng số lượng vân tay TRC (Total Ridge Count) và mức độ phụ thuộc của chúng vào gen di truyền của mỗi người. Vì vậy có thể coi TRC là một biểu hiện phụ trợ của hệ thống gen mà con người được thừa kế. TRC phản ánh gần đúng sự đóng góp của từng gen riêng biệt trong hệ thống gen vào việc hình thành một con người cụ thể. Thật vậy, dấu vân tay được hình thành dưới tác động của hai yếu tố hệ thống gen và môi trường nên nó phản ánh được quá trình hình thành và phát triển của thai nhi.

Dấu vân tay được sử dụng rộng rãi để nhận dạng cá nhân, để hội chẩn những chứng bệnh do di truyền và phát hiện tiềm năng của con người.

Việc sử dụng dấu vân tay và vân chân để nhận dạng đã được người Trung Quốc làm từ thế kỉ thứ XIV. Khi một đứa trẻ ra đời, người Trung Quốc đã dùng mực bôi đen chân tay nó và in dấu lên một tờ giấy.

Người Anh bắt đầu sử dụng dấu vân tay một cách tình cờ vào tháng 7 năm 1858. Ngài William Herschel, một quan cai trị người Anh tại Ấn độ, do quá bức xúc với tính gian trá đã bắt thương gia bản xứ là Rajyadhar Konai in dấu bàn tay lên mặt sau của tờ hợp đồng.

Vào nửa sau của thế kỉ XIX, Richard Edward Henry của Scotland Yard (cơ quan an ninh của Anh) đã phát triển phương pháp phân loại và nhận dạng dấu vân tay. Phương pháp này được Francis Galton cải tiến vào năm 1892 và được sử dụng làm cơ sở thực nghiệm với độ tin cậy cao. Hầu như đồng thời với hệ thống phân loại vân tay của người Anh, Juan Vucetich đã tạo ra một hệ thống phân loại khác cho các nước dùng tiếng Tây Ban Nha. Hiện nay InterPol sử dụng cả hai hệ thống phân loại nêu trên. Ở Mỹ có nhiều hệ thống phân loại và xử lý thông tin vân tay. Tuy nhiên, có thể phân loại vân tay theo ba kiểu chính: xoáy tròn, móc và vòm. Ngoài ra, mỗi kiểu còn được phân theo độ nghiêng: 0, 45, 90 và 135 độ.

Việc sử dụng dấu vân tay để nhận dạng được áp dụng rộng rãi trong đời sống của các nước công nghiệp phát triển. Dấu vân tay không những được sử dụng trong lĩnh vực hình sự mà còn được sử dụng trong việc xác nhận nhân thân của cá nhân khi truy cập mạng hoặc mở khoá. Một số ngân hàng đã bắt đầu thanh toán thẻ ATM sử dụng máy đọc vân tay.

Trong y học, dựa trên những bức tranh vân tay đặc trưng, người ta phát hiện ra những bệnh do sai lệch gen như hội chứng Down, hội chứng ba nhiễm sắc thể 18, ba nhiễm sắc thể 13, sai lệch nhiễm sắc thể giới tính XXX, XXY…

Trong các xã hội công nghiệp hiện đại, ngành vân tay học còn trợ giúp bố mẹ trong việc phát triển năng khiếu và hạn chế hoặc khắc phục phần nào những khiếm khuyết của con bằng cách đọc vân tay để dự báo tiềm năng. Tuy nhiên, dấu vân tay chỉ có tính phụ trợ trong việc nhận biết những nét tính cách được kế thừa bằng con đường di truyền và chỉ phản ánh gần đúng tiềm năng của cá nhân. Việc đọc và nhận dạng tiềm năng qua dấu vân tay chỉ có thể giúp bố mẹ và con cái nhận biết khả năng còn tiềm ẩn của con cái. Nhận dạng tiềm năng không thể thay thế quá trình rèn luyện để phát triển tiềm năng thành khả năng và tài năng…

1684

Nehemiah Grew


Tiến sĩ Nehemiah Grew (1641-1712) giới thiệu những nghiên cứu đầu tiên về dấu vân tay đến Hội Hoàng gia.

1686

Marcello Malphigi


Tiến sĩ Marcello Malphigi (1628-1694) đưa ra luận thuyết về các 3 chủng vân tay: xoắn, móc, vòm trong dấu vân tay.

1788

J.C.Mayer


J.C.Mayer là người đầu tiên đưa ra thuyết cơ bản về phân tích vân tay và giả thuyết rằng Dấu vân tay là duy nhất.

1823

Joannes Evangelista Purkinji

Tiến sĩ Joannes Evangelista Purkinji phát hiện ra rằng vân tay bắt đầu hình thành ở khoảng tuần thứ 13 của thai nhi trong bụng mẹ.

1823

Dr. Pa Jinjie

Năm 1823 Lần đầu tiên được ghi lại bởi Dr. Pa Jinjie, người Czech. Bàn tay được bao phủ bởi 1 lớp các nếp nhăn tạo nên đường vân cụ thể. Mỗi bộ vân tay đều độc nhất và khác nhau. Vì vân tay là độc nhất và có tính di truyền, chúng ta có thể nhận dạng cá nhân (ID), nhận diện tính cách và tiềm năng của từng người.

 

1880

Henry Faulds
Tiến sĩ Henry Faulds đưa ra lý luận số lượng vân tay TFRC, có thể dự đoán tương đối chính xác mức độ phụ thuộc của chúng vào gen di truyền của mỗi người. TFRC nói lên hệ thống gen mà con người được thừa kế trong đó có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của mỗi người theo gen di truyền.

1892

Francis Galton


Francis Galton (1822-1911) là cháu họ của Charles Darwin. Ông đã nghiên cứu về tầm quan trọng và tính ổn định của vân tay để nhận dạng cá nhân và xác định các biến thể di truyền của dâu vân tay giữa các chủng tộc khác nhau. Ông là người đầu tiên nói rằng vân tay là một bản vẽ thiết kế di truyền. Việc phân loại vân tay của ông là một bước tiến quan trọng. Ông đã đơn giản hoá việc phân loại vân tay và chia vân tay thành 3 loại cơ bản: Arch (không có tam giác delta), Loop (một điểm delta), và Whorl (hai điểm delta). Nghiên cứu của ông được coi là kinh điển trong lĩnh vực Dematoglyphics và làm dấy lên sự quan tâm tập trung của các nhà khoa học về nhân chủng học, động vật học, di truyền học và tội phạm học.

1897

Harris Hawthorne Wilder


Harris Hawthorne Wilder là người Mỹ đầu tiên học về Dermatoglyphics nghiên cứu các gò trên bàn tay và gọi chúng là 3 điểm bán kính A, B, C; đồng thời đưa ra các chỉ dẫn về các loại vân tay chính.

1962

This is a simple headline

Tiến sĩ Harold Cummins được xem là “cha đẻ của Dermatoglyphics” đã đề xuất “Dermatoglyphics” (Sinh trắc học dấu vân tay) như là một thuật ngữ cho chuyên ngành nghiên cứu dấu vân tay tại Hiệp hội hình thái học của Mỹ. Từ đó, Dermatoglyphics chính thức trở thành một ngành nghiên cứu riêng biệt. Những khám phá trong cuộc đời hoạt động nghiên cứu cùng những kỹ thuật ông đã phát triển – còn gọi là “Phương pháp Cummins” – được công nhận như một công cụ quan trọng trong việc phát hiện tính di truyền và quan hệ của quá trình tiến hóa. Phương pháp này đã và đang được sử dụng phổ biến trong việc chẩn đoán một số bệnh như tâm thần phân liệt hay thiểu năng trí tuệ. Ông đã xây dựng lý thuyết Dermatoglyphics và đưa ra lý luận chỉ số cường độ vân tay PI (Pattern Intensity) chính thức trở thành nền tảng chuyên môn.

1930

Hiệp hội SSPP


Hiệp hội nghiên cứu hình thái sinh lý học (viết tắt là SSPP: Society for the Study of Physiological Patterns) bắt đầu công trình nghiên cứu 5 chủng loại vân tay và những nét đặc trưng độc đáo của nó.

1944

Noel Jaquin

Tiến sĩ tâm lý phân tích Julius Spier Chirologist xuất bản cuốn sách “Bàn tay của trẻ em”. Ông đã khám phá một số điểm đáng kể, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển tâm sinh lý, chẩn đoán sự mất cân bằng và các vấn đề trong khu vực này từ các mô hình của bàn tay. Ông đặt nhiều ý nghĩa về ảnh hưởng liên tục của gia đình và cuộc sống ban đầu của chúng ta đến sự phát triển cá nhân. Theo ông, lý do của phân tích bàn tay là một cách giải phóng con người khỏi những ảnh hưởng nhiễu từ xã hội và môi trường làm mờ đi năng lực bẩm sinh đích thực của cá nhâ

1880

Noel Jaquin


Noel Jaquin (1893-1974) đã nghiên cứu và phát hiện ra mỗi vân tay sẽ tương ứng với một chủng loại tính cách

1892

Beryl Hutchinson


Beryl Hutchinson (1891-1981) nghiên cứu sinh lý học phát hiện ra rằng Dermatologlyphics có thể chỉ ra tiềm năng bẩm sinh của một người.

1823

Ứng dụng tại Liên Xô Cũ


Liên Xô thực hiện công trình nghiên cứu về tiềm năng con người, mối liên quan giữa tài năng, trí thông minh với sinh trắc vân tay và hệ gen của con người. Và sử dụng Sinh trắc vân tay trong việc lựa chọn thí sinh cho thế vận hội Olympic.

1892

Beverly C. Jaegers


Beverly C. Jaegers cho thấy dấn vân tay có liên quan đến đặc trưng tâm lý của mỗi người.

1823

Schaumann và Alter


Schaumann và Alter nghiên cứu các chỉ số trên vân tay của những người bệnh tim bẩm sinh, ung thư, bệnh bạch cầu, bệnh tâm thần phân liệt… nghiên cứu được hướng vào nghiên cứu di truyền và chẩn đoán của các khuyết tật nhiễm sắc thể.

1892

Ứng dụng tại Trung Quốc

Trung Quốc thực hiện công tác nghiên cứu về tiềm năng con người , trí thông minh và tài năng trong DERMATOGLYPHICS và quan điểm hệ gen của con người.

1880

Roger-W.Sperry


Giáo sư Roger W.Sperry và đồng sự đã được vinh danh giải thưởng Nobel trong ngành Y sinh học vì những nghiên cứu về chức năng của não trái và não phải cũng như lý thuyết toàn não. Từ đây, những nghiên cứu về não bộ không ngừng phát triển. Những kết quả này đã được nhiều nhà khoa học sử dụng triệt để và áp dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau.

1892

Chen Yi Mou


Tiến sĩ Chen Yi Mou – Đại học Havard nghiên cứu Sinh trắc vân tay dựa trên Thuyết Đa Thông Minh của Tiến sĩ Howard Gardner. Đây là lần đầu tiên áp dụng Sinh trắc dấu vân tay trong lĩnh vực giáo dục và chức năng của não liên quan đến dấu vân tay.

1880

IBMBS


Trung tâm IBMBS – International Behavioral and Medical Biometrics Society (Trung tâm Sinh trắc học Xã hội và Hành vi ứng xử quốc tế) đã xuất bản hơn 7000 luận án về Sinh trắc vân tay. Ngày nay, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan áp dụng Sinh trắc vân tay đến các lĩnh vực giáo dục, hy vọng sẽ cải thiện chất lượng giảng dạy và nâng cao hiệu quả học tập bằng cách xác định các phong cách học tập khác nhau.Các nhà nghiên cứu khẳng định độ chính xác của Sinh trắc vân tay rất cao, đó là khả năng dự báo từ các tính năng của tay…

1892

ADRC


ADRC – Asian Dermatoglyphics Research Centre – Trung tâm Sinh trắc học dấu vân tay Châu Á được thành lập với mục đích dùng hệ thống máy vi tính hỗ trợ cho công nghệ thống kê, nghiên cứu chuyên sâu về vân tay.